Nếu như phát hiện và điều trị kịp thời ung thư tuyến giáp đa phần có thể điều trị khỏi được. Chính vì vậy nếu nghi ngờ ung thư tuyến giáp, thì người bệnh nên đi khám và chuẩn đoán bệnh sớm.
Không phải tất cả các loại ung thư tuyến giáp đều gây ra các triệu chứng. Tuy nhiên, các triệu chứng của bệnh ung thư tuyến giáp chung có thể bao gồm:
- Xuất hiện khối u hoặc hạch phía trước cổ.
- Hạch to ở cổ.
- Khó khăn khi nuốt.
- Giọng khàn hoặc thay đổi giọng nói.
- Đau hoặc khó chịu ở cổ.
- Ho mãn tính.
Một số các yếu tố nguy cơ ung thư tuyến giáp:
Các bác sĩ chưa biết nguyên nhân nào gây ra hầu hết các trường hợp ung thư tuyến giáp. Tuy nhiên, các nhà khoa học đã nhận ra rằng ung thư tuyến giáp xuất hiện ở phụ nữ nhiều hơn gấp hai đến ba lần so với nam giới và thường gặp ở người da trắng hơn người da đen. Các nhà khoa học cũng chưa hiểu đầy đủ về nguyên nhân gây ra những điều này và họ vẫn tiếp tục nghiên cứu về ung thư tuyến giáp để cố gắng tìm hiểu xem điều gì có thể làm tăng nguy cơ mắc bệnh.
Xét trên các dấu hiệu ung thư tuyến giáp sớm để phát hiện ung thư kịp thời. Một yếu tố nguy cơ được biết là sự tiếp xúc với tia phóng xạ trong suốt thời tuổi thơ. Trước khi các bác sĩ biết được các mối nguy hại của tia phóng xạ thì tia xạ đã được dùng để điều trị mụn trứng cá và đề làm giảm phù nề và nhiễm khuẩn trong các cơ quan như tuyến ức, amydan và các hạch. Những người được điều trị bằng tia xạ vùng đầu và cổ khi còn nhỏ thì có nguy cơ bị ung thư tuyến giáp cao hơn trung bình sau nhiều năm. Các nhà khoa học đang thực hiện các nghiên cứu để xác định xem liệu sự tiếp xúc với các loại bức xạ khác có gây ung thư tuyến giáp hay không.
Tóm lược các yếu tố nguy cơ gây nên căn bệnh ung thư tuyến giáp:
- Tiền căn xạ trị vùng cổ lúc nhỏ vì bệnh lành tính hoặc bị nhiễm phóng xạ (ví dụ sau tai nạn hạt nhân Chernobyl tỉ lệ ung thư tuyến giáp của cư dân vùng này tăng lên) làm gia tăng nguy cơ carcinôm tuyến giáp biệt hoá tốt với đỉnh cao nguy cơ từ 12 đến 25 năm sau tiếp xúc.
- Phơi nhiễm hexachlorobenzene và tetracholorodibenzo-p-dioxin.
- Tiền căn gia đình có bệnh đa bướu nội tiết, hội chứng Pendred, hội chứng Gardner và hội chứng Cowden.
- Vùng phình giáp dịch tễ thường gặp carcinôm dạng nang hay carcinôm không biệt hoá. Carcinôm dạng nhú thường gặp ở vùng đầy đủ iod.
- Các đột biến về gene sinh ung và gene đèn nén bướu trong ung thư tuyến giáp.
- Hoạt hoá các gene tyrosine kinase: tái sắp xếp gene sinh ung RET/PTC ở nhiễm sắc thể 10 xảy ra trong 5-35% carcinôm dạng nhú tự phát.
- Gia tăng biểu lộ gene sinh ung MET có trong 70% carcinôm dạng nhú.
- Đột biến gene sinh ung RET cũng thấy trong carcinôm dạng tuỷ có tính gia đình.
- Gen sinh ung RAS và đường dẫn truyền tín hiệu tế bào: đột biến RAS thường gặp trong carcinôm dạng nang ở vùng thiếu iod.
- Gen đèn nén bướu p53: đột biến điểm gen p53 làm bất hoạt hoá gen này, thấy trong 80% carcinôm không biệt hoá.
Xem thêm: ung thư tuyến giáp kiêng ăn gì?
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét